Covid 19 - và việc các trường họp phải đóng cửa - các quốc gia có thể học được gì từ những trường hợp khẩn cấp trong quá khứ

        Khi đại dịch COVID – 19 đang lan rộng trên khắp thế giới, các hệ thống trường học phải đóng cửa. Đến nay, cộng đồng giáo dục chủ yếu tập trung vào các chiến lược khác nhau để tiếp tục việc học, bao gồm các thảo luận sôi nổi về vai trò của công nghệ giáo dục so với việc phân phát các tài liệu in. Nhưng có tương đối ít các cuộc thảo luận về việc làm cách nào để tận dụng được các tri thức và thực tiễn đã được đúc kết từ nhiều năm kinh nghiệm trong các lĩnh vực nhân đạo và phát triển.

      Trong suốt sự nghiệp của mình, tôi đã có vinh dự được hỗ trợ để đúc kết các hành động và phương pháp tiếp cận khác nhau của các giáo viên và các nhà lãnh đạo các chương trình dự án thành các lý thuyết và thực hành trong lĩnh vực giáo dục trong các trường hợp khẩn cấp (education in emergencies). Ngày nay, mặc dù thế giới chưa bao giờ chứng kiến một cuộc khủng hoảng như hiện nay, lĩnh vực giáo dục trong các trường hợp khẩn cấp có rất nhiều thông tin và kinh nghiệm quý giá để chia sẻ với hệ thống các trường học trên toàn cầu.

PHẠM VI ĐÓNG CỬA TRƯỜNG HỌC LIÊN QUAN ĐẾN COVID – 19 LÀ CHƯA TỪNG CÓ TRONG LỊCH SỬ:

     Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) đang theo dõi tác động của đại dịch đối với nền giáo dục. Tính đến ngày 30/3, ước tính rằng 87% học sinh trên toàn thế giới, tức 1,5 tỷ người, đã bị ảnh hưởng bởi việc đóng cửa trường học. Phần lớn những học sinh này đang theo học tại các trường tiểu học và trung học, nhưng cũng có hàng triệu học sinh bị ảnh hưởng ở các cấp giáo dục tiền tiểu học và đại học, cao đẳng. Hơn 180 quốc gia đã đóng cửa trường học trên toàn quốc, trong khi các quốc gia khác thực hiện đóng cửa trường học cấp địa phương. Ở Hoa Kỳ, trong khi việc phong tỏa toàn quốc chưa xảy ra, 50 tiểu bang và vùng lãnh thổ Hoa Kỳ đã đóng cửa trường học.

   Thông điệp sức khỏe cộng đồng chống COVID – 19 và đào tạo y tế công cộng cần được triển khai đồng bộ ngay lập tức thông qua các hoạt động giáo dục:

   Trong những thập kỷ gần đây, khủng hoảng chủ yếu là do thiên tai, xung đột vũ trang hoặc đôi khi là dịch bệnh đã làm gián đoạn giáo dục ở từng quốc gia hoặc khu vực. Ví dụ, trận lụt năm 2010 ở Pakistan đã cuốn trôi nhà cửa và mùa màng ở 1/5 đất nước, ảnh hưởng đến 20 triệu người, trong đó có nhiều trẻ em và thanh thiếu niên. Các trường học trong khu vực bị ảnh hưởng đã phải đóng cửa và chuyển đổi thành nơi trú ẩn tạm thời cho cộng đồng. Tại Trung Đông trong vòng 10 năm qua, ít nhất 2,8 triệu trẻ em Syria đã nghỉ học một thời gian và 5 triệu trẻ em đã phải nghỉ học khi dịch bệnh Ebola lan rộng khắp Tây Phi hồi năm 2013.

     Nhưng thậm chí so với việc đóng cửa trường học trong các cuộc khủng hoảng toàn cầu, như trong đại dịch cúm Tây Ban Nha năm 1918, 40 thành phố của Hoa Kỳ đóng cửa trường học, và Thế chiến thứ II, ở Anh, một triệu trẻ em đã phải nghỉ học, mức độ gián đoạn giáo dục hiện nay còn lớn hơn rất nhiều. Điều này một phần là do trong vòng 50 năm trở lại đây, trường học đã trở thành một đặc trưng gắn với tuổi thơ, không chỉ giáo dục mà còn là chương trình quốc gia chăm sóc trẻ em lớn nhất ở hầu hết các nước trên thế giới. Ngày nay, 90% thiếu niên trên thế giới đang theo học tại các trường tiểu học so với 40% vào năm 1920.

GIÁO DỤC TRONG TRƯỜNG HỢP KHẨN CẤP LÀ GÌ?

    Mặc dù tình hình hiện nay là chưa từng có tiền lệ, song đã có các kiến thức hữu ích về học tập trong các cuộc khủng hoảng kéo dài. Trong 20 năm qua, “giáo dục trong các trường hợp khẩn cấp” đã kết hợp lại thành một lĩnh vực được nghiên cứu và thực hành bởi các học viên và học giả làm viện trợ nhân đạo và phát triển toàn cầu. Trong khoảng thời gian này, các tiêu chuẩn thực tiễn đã được phát triển, bao gồm các hướng dẫn kỹ thuật, các chương trình nghiên cứu mới, các khóa học đại học, một quỹ toàn cầu cho giáo dục trong trường hợp khẩn cấp và các tạp chí học thuật.

    Giáo dục trong trường hợp khẩn cấp đề cập rộng rãi đến việc đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng bởi các trường hợp khẩn cấp và khủng hoảng, bất kể loại hình hay nguồn gốc khủng hoảng, có thể tiếp cận giáo dục an toàn, phù hợp và chất lượng. Điều này bao gồm tập trung vào chu trình phòng ngừa và công tác chuẩn bị để ứng phó với các trường hợp khẩn cấp, cũng như đáp ứng và phục hồi từ các trường hợp khẩn cấp.

     Trọng tâm của lĩnh vực này là một tập hợp các tiêu chuẩn toàn cầu được phát triển vào năm 2004 bởi Liên minh các tổ chức giáo dục trong trường hợp khẩn cấp (INEE). Các tiêu chuẩn INEE tối thiểu được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa bí quyết học tập và bằng chứng khoa học, thường được sử dụng để ứng phó với khủng hoảng ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, dân số tị nạn và cơ sở hạ tầng bị phá hủy.

     Mặc dù có những khác biệt với đại dịch COVID-19 hiện nay, cộng đồng giáo dục trong trường hợp khẩn cấp vẫn có thể cung cấp những bài học, kinh nghiệm và thực hành trong hầu hết mọi trường hợp giáo dục bị gián đoạn trong một khoảng thời gian dài. Nổi bật là bốn bài học dưới đây.

  1. Huy động mạng lưới giáo dục để phổ biến các thông điệp sức khỏe cộng đồng mang tính sống còn:

     Trong giai đoạn đầu của tình trạng khẩn cấp, điều quan trọng là phải nhanh chóng khởi động lại các hoạt động giáo dục bằng cách tập hợp trẻ em và thanh thiếu niên mỗi ngày vì nhiều lý do, bao gồm để phổ biến các thông điệp an toàn sức khỏe thiết yếu.

     Những hoạt động giáo dục sớm này khác nhau trong mỗi hoàn cảnh. Trong giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng Darfur ở Sudan, trẻ em được một tình nguyện viên trưởng thành dẫn dắt, thường xuyên tập hợp dưới một gốc cây hoặc trong một cái lều để hát những bài hát, chơi trò chơi và học cách giữ an toàn trong môi trường mới. Để giảm thiểu nguy cơ cao mắc bệnh tả, mọi người trong cộng đồng phải tìm hiểu nơi có nguồn nước an toàn, nơi nên đi vệ sinh và làm thế nào để rửa tay đúng cách. Trẻ em thường xuyên thực hành những hành động này và trở thành đại sứ cho gia đình.

    Ngày nay, nhiều quốc gia đã đóng cửa trường học đang chuyển sang một số hình thức học tập từ xa, bằng các tài liệu in, chương trình phát thanh hoặc học trực tuyến, với một liên minh toàn cầu hình thành để giúp đỡ hướng dẫn và hỗ trợ. Thông điệp sức khỏe cộng đồng chống COVID – 19 và đào tạo y tế công cộng cần được triển khai đồng bộ ngay lập tức thông qua các hoạt động giáo dục. Đáng ngạc nhiên, điều này bị thiếu nhiều trong phản ứng giáo dục cho cuộc khủng hoảng này. Ví dụ, tại Hoa Kỳ, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) cung cấp một loạt các hướng dẫn về cách khử trùng trường học, cách đánh giá khi nào thì trường học đóng cửa, phải làm gì khi một thành viên của trường nhiễm COVID – 19, và thậm chí làm thế nào để tiếp tục giảng dạy thông qua học từ xa. Nhưng họ lại không cung cấp các tài liệu giáo dục làm thế nào các trường có thể chủ động tham gia vào các chiến dịch y tế công cộng quốc gia chống COVID – 19.

     Điều này đòi hỏi vai trò lãnh đạo từ cộng đồng y tế công cộng và không nên để các giáo viên hoặc trường học chịu trách nhiệm trong việc phát triển các thông điệp hay tài liệu về sức khỏe. Ví dụ, tại Hoa Kỳ, cộng đồng y tế công cộng nên hợp tác ngay lập tức với các trường học trên khắp cả nước để phát triển và phổ cập các tài liệu giảng dạy và học tập phù hợp với lứa tuổi về các chủ đề như rửa tay, giữ khoảng cách an toàn với những người khác và ho vào khuỷu tay. Những thông điệp này cần được phổ biến thường xuyên và cập nhật cho các mạng lưới giáo dục khi cần. Trường học từ lâu đã là phương tiện tuyên truyền thông tin y tế công cộng, như trong chiến dịch ngừng hút thuốc lá ở Mỹ. Trong cuộc khủng hoảng này, có khả năng các thông điệp về sức khỏe cộng đồng sẽ được đưa từ sách giáo khoa lên bàn ăn tối, vì phụ huynh gần gũi hơn nhiều với việc học của trẻ em.

  1. Lên kế hoạch cho việc đóng cửa trường học trong hàng tháng, chứ không chỉ theo tuần:

     Nếu có một điều mà tôi đã học được từ công việc của mình trong lĩnh vực giáo dục trong trường hợp khẩn cấp, thì đó là việc trở lại với thói quen học tập luôn mất nhiều thời gian hơn bạn nghĩ. Ngày nay, các trường học ở nhiều quốc gia đã đóng cửa trong nhiều tuần, với các thời hạn được kéo dài thường xuyên. Ở Hoa Kỳ, chỉ một số tiểu bang như Virginia và Kansas đã tuyên bố họ sẽ không bắt đầu lại trong năm học này. Việc đóng cửa các trường học rất có khả năng sẽ kéo dài hàng tháng chứ không phải vài tuần, và cộng đồng giáo dục có thể nhận thức điều này và chuẩn bị kịch bản ứng phó lâu dài càng sớm càng tốt.

    Khi lãnh đạo, các nhà quản lý và các nhà giáo dục lên kế hoạch cho các hoạt động học từ xa, họ cần tìm cách để phương án ứng phó khẩn cấp có thể làm nền tảng để đạt được các mục tiêu dài hạn.

    Dịch Ebola đã đóng cửa các trường học khắp Liberia, Sierra Leone và Guinea, về mặt giáo dục, là một phép so sánh hữu ích với cuộc khủng hoảng hiện nay. Trên toàn Tây Phi, các trường học bị đóng cửa không phải vì chúng bị phá hủy do thảm họa hay chiến tranh mà là để ngăn chặn sự lây lan của virus Ebola. Gia đình và trẻ em không bị di dời khỏi cộng đồng mà chỉ bị hạn chế tại nhà, cách ly xã hội và thay đổi hành vi khi cần thiết.

   Trong trường hợp dịch Ebola, các trường học đã bị đóng cửa từ năm đến tám tháng. Để giảng dạy trở lại, các trường học được khử trùng một cách có hệ thống một khi dịch bệnh được kiểm soát. Điều này đặc biệt quan trọng vì nhiều trường đã được sử dụng làm trung tâm cho các bệnh nhân mắc bệnh Ebola. Giáo viên và ban giám hiệu nhà trường được đào tạo về các biện pháp giám sát và phòng ngừa thích hợp, bao gồm việc đo thân nhiệt học sinh mỗi ngày và yêu cầu các em rửa tay đúng cách khi ra và vào tòa nhà.

    Một báo cáo có tầm ảnh hưởng của UNICEF từ năm 1999 đã lập luận rằng trong khủng hoảng, các hoạt động giáo dục không nên chỉ được thiết kế như các biện pháp khẩn cấp ngắn hạn mà phải là các ứng phó nhanh với mục tiêu phát triển dài hạn. Nguyên tắc này vẫn còn đúng cho đến ngày nay và nếu được thực hiện nghiêm túc, có thể đã giúp ngành giáo dục ứng phó tốt hơn với đại dịch COVID - 19. Điều đó có nghĩa là khi lãnh đạo, quản lý các nhà trường và các nhà giáo dục lên kế hoạch cho các hoạt động học từ xa, họ cần tìm cách để phương án ứng phó trước mắt có thể đặt nền tảng đạt được các mục tiêu dài hạn.

  1. Xem xét các hậu quả không lường trước và tìm cách giảm thiểu chúng:

    Tính liên tục của giáo dục là một trong những hoạt động rõ nhất để khuyến khích sự kiên cường, hạnh phúc của trẻ em và giảm bớt lo lắng trong trường hợp khẩn cấp. Tuy nhiên, không phải tất cả trẻ em sẽ cần hỗ trợ sức khỏe tinh thần, và thực sự điều này hiếm khi khả thi. Đối với phần lớn trẻ em, đảm bảo tính liên tục trong giáo dục an toàn, phù hợp và các dịch vụ xã hội cơ bản khác là đủ để giúp chúng thích nghi với tình hình mới. Các chỉ dẫn nhân đạo để hỗ trợ sức khỏe tinh thần và tư vấn tâm lý một cách tiếp cận đa tầng với tất cả những người trẻ tuổi được giáo dục, đi kèm với các chương trình cụ thể cho trẻ em và thanh thiếu niên dễ bị tổn thương.

  Những ý định tốt có thể trở thành sai lầm lớn nếu những rủi ro tiềm ẩn liên quan đến kế hoạch cung cấp viện trợ nhân đạo không được suy nghĩ cẩn thận.

    Nếu làm tốt, các hoạt động giáo dục có thể cung cấp một thói quen mang lại cho giới trẻ cảm giác ổn định trong bối cảnh đang thay đổi nhanh chóng. Đây là một phần quan trọng trong việc giúp trẻ em xử lý và thích nghi theo môi trường thay đổi bên ngoài và phát triển các chiến lược mới để đối phó. Thông tin về an toàn và sức khỏe cộng đồng thường được chia sẻ thông qua các hoạt động giáo dục, như đã trình bày ở trên, có thể làm rõ khủng hoảng và giúp trẻ em cảm thấy làm chủ môi trường tốt hơn. Trong các cuộc khủng hoảng kéo dài, giáo dục mang đến hy vọng cho một tương lai tốt đẹp hơn, một chức năng quan trọng trong việc hỗ trợ khả năng phục hồi tự nhiên.

   Tuy nhiên, để đạt được những lợi ích này, điều quan trọng là các hoạt động giáo dục phải an toàn, phù hợp và toàn diện. Thời điểm khủng hoảng làm sự bất bình đẳng thêm trầm trọng và nguyên tắc “không gây tổn hại” là một mệnh lệnh: bất kỳ hành động nào cũng phải đảm bảo không được gây ra tác động tiêu cực. Lấy cảm hứng từ Lời thề Hippocrates trong hành nghề y, nó đã được phát triển trong lĩnh vực nhân đạo bắt đầu từ cuối những năm 1990 do sự nhận thức ngày càng cao về những hậu quả tiêu cực mà viện trợ nhân đạo có thể gây ra nếu không được thực hiện tốt. Việc nhận thức về vấn đề này được nâng cao ngay sau cuộc diệt chủng Rwandan, khi viện trợ nhân đạo, từ nơi trú ẩn và bảo vệ thực phẩm, hàng hóa, đã được vũ khí hóa để tiếp tục hành động tàn bạo. Trong những trường hợp ít cực đoan hơn, khi sự hỗ trợ khẩn cấp được phân phối không đồng đều và vô tình ưu tiên nhóm người này hơn nhóm khác (ví dụ: người tị nạn so với thành viên cộng đồng địa phương), điều đó có thể dẫn đến sự chia rẽ, bất hòa và đôi khi là bạo lực. Trong một số trường hợp, cách thức phân phối viện trợ thực phẩm khẩn cấp đã khiến phụ nữ và trẻ em gái có nguy cơ bị bóc lột và lạm dụng tình dục cao hơn. Những ví dụ này minh họa cách các ý định tốt có thể trở nên rất sai lầm nếu những rủi ro tiềm ẩn liên quan đến kế hoạch cung cấp viện trợ nhân đạo không được suy nghĩ cẩn thận.

     Điều bắt buộc đối với các hệ thống trường học bị tác động bởi COVID – 19 là áp dụng nguyên tắc không gây tổn hại. Điều này có nghĩa là tạm dừng lại để xem xét các hậu quả ngắn hạn và dài hạn tiềm ẩn của các phương án được đề xuất. Một cách để hiểu những rủi ro đó là tính đến những người hưởng lợi của chương trình. Nói chuyện với học sinh và gia đình, đặc biệt là những người có nguy cơ cao, về các kế hoạch và nghe phản hồi từ họ.

    Có một số rủi ro có thể dự đoán. Một rủi ro rất thực tế là làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng đang tồn tại. Ngày nay, đối với những học sinh không được tiếp cận với công nghệ, sách, thực phẩm hoặc người lớn biết chữ ở nhà, việc học từ xa có nguy cơ gia tăng đáng kể khoảng cách giữa họ với những tài nguyên đó.

    Rủi ro liên quan đến bảo vệ trẻ em xảy ra thường xuyên trong trường hợp khẩn cấp vì các cơ chế hiện có để giữ an toàn cho trẻ em không thể tiếp cận được hoặc bị phá vỡ. Liệu trẻ em sẽ có nguy cơ bị lạm dụng tình dục trực tuyến cao hơn khi mà hiện nay hàng trăm triệu thanh thiếu niên đang sử dụng công nghệ để học tập? Liệu việc xác định và hỗ trợ trẻ em bị lạm dụng sẽ khó khăn hơn?

    Các chính sách bất hợp lý không được điều chỉnh phù hợp với bối cảnh là một lĩnh vực khác có thể dự đoán sẽ gây ra hậu quả không lường trước được. Tại Sierra Leone thời hậu chiến, những học sinh cấp hai đã ở trường tị nạn trong nhiều năm phải có chứng chỉ tiểu học do chính phủ cấp để đăng ký vào trường cấp hai, buộc nhiều học sinh phải học lại tiểu học. Làm thế nào để đánh giá quá trình học từ xa của trẻ, và thông tin đó sẽ được sử dụng như thế nào để phân bổ tài chính và các hỗ trợ của nhà trường? Các trường sẽ phản hồi thế nào với đánh giá đó, bằng cách cung cấp hỗ trợ cần thiết cho những học viên bị tụt lại phía sau, hay đưa ra nội dung nâng cao hơn cho những người đã vượt qua nhanh hơn?

  Chúng ta sẽ không biết chắc chắn tất cả các hậu quả không lường trước có thể xảy ra, cả tốt và xấu, từ việc đóng cửa trường học chưa từng có này. Nhưng ngành giáo dục phải nghiêm túc suy nghĩ về những rủi ro có thể xảy ra và cố gắng tìm cách giảm thiểu chúng.

  1. Xây dựng trường học tốt hơn:

    Một nguyên tắc trọng tâm trong phục hồi hậu khủng hoảng là tận dụng thời cơ để tái thiết tốt hơn. Trong giáo dục, chúng ta đã thấy nguyên tắc này được áp dụng trên nhiều yếu tố khác nhau của hệ thống trường học. Chẳng hạn, trước khi xảy ra cuộc diệt chủng ở Rwanda, các trường học, mang theo di sản thuộc địa Bỉ, đã công khai ủng hộ người Tutsi và phân biệt đối xử với người Hutus. Tái thiết sau nạn diệt chủng, các trường và nội dung học tập đã được thay đổi ngoạn mục. Tùy thuộc hoàn cảnh, cũng có thể có các hỗ trợ để cải thiện cơ sở hạ tầng. Ví dụ, trong giai đoạn phục hồi sau trận động đất kinh hoàng năm 2005 ở miền bắc Pakistan, các trường học đã được xây dựng lại và trang bị thêm với kết cấu tốt hơn nhiều.

    Tìm cách để tái thiết tốt hơn trên tất cả các nguyên tắc đã thảo luận trước đây và cung cấp cho nền giáo dục một dàn ý để tìm kiếm cơ hội trong bối cảnh khủng hoảng.

    Có rất nhiều cách khác nhau để hệ thống trường học có thể trở nên mạnh hơn do cuộc khủng hoảng COVID – 19. Một lĩnh vực tiềm năng xoay quanh sự tham gia của phụ huynh trong giáo dục. Các nghiên cứu cho thấy rằng khi cha mẹ tham gia vào việc giáo dục con cái, đặc biệt thông qua việc đặt câu hỏi về những gì con đang học ở trường, học sinh sẽ học tốt hơn. Điều này đặc biệt đúng đối với trẻ em của các gia đình có thu nhập thấp, khi các trường thường xuyên phải vật lộn để xây dựng các mối quan hệ ý nghĩa với cha mẹ. Các trường học có thể xây dựng những mối quan hệ ý nghĩa này trong quá trình học từ xa và duy trì chúng khi trở lại trạng thái bình thường.

   Một lĩnh vực tiềm năng khác có thể xoay quanh việc tích hợp công nghệ và giáo dục. Học từ xa có thể buộc nhiều giáo viên và ban giám hiệu nhà trường phải thúc đẩy công nghệ, và mức độ xúc tiến trôi chảy này có thể được duy trì sau khủng hoảng để hỗ trợ học sinh (đồng thời luôn lưu ý những hậu quả tiêu cực tiềm ẩn đi kèm).

   Nhiều hệ thống giáo dục sẽ nhận thấy việc trở lại “bình thường” sẽ không còn là một lựa chọn, nhưng chính điều này có thể trở thành đòn bẩy quan trọng xúc tác cho việc chuyển đổi hệ thống –điều tối cần thiết hiện nay ở nhiều nơi trên toàn cầu.

    Một lĩnh vực tiềm năng cuối cùng bao gồm chính các hệ thống trường học và sự sẵn sàng của họ để đối mặt với một cuộc khủng hoảng khác. Nếu không phải là điều gì khác, COVID – 19 đã chỉ ra việc hầu hết các hệ thống giáo dục thiếu nghiêm trọng các kế hoạch ứng phó khẩn cấp như thế nào.  Có được các hệ thống giáo dục kiên cường hơn sẽ là rất tốt.

KẾT LUẬN

  Cộng đồng giáo dục trong trường hợp khẩn cấp có nhiều bài học quan trọng để hỗ trợ khi hệ thống các trường học trên khắp thế giới ứng phó với cuộc khủng hoảng COVID – 19. Các giải pháp sáng tạo cung cấp các ứng phó tức thì, xem xét các hậu quả không lường trước và đặt nền tảng để xây dựng lại tốt hơn có thể đến từ, và được áp dụng cho bất kỳ nơi nào trên toàn cầu. Nhiều hệ thống giáo dục sẽ nhận thấy việc trở lại “bình thường” sẽ không còn là một lựa chọn, chính điều này có thể là một đòn bẩy quan trọng xúc tác cho việc chuyển đổi hệ thống hiện đang là điều rất cần thiết ở nhiều nơi trên toàn cầu.

Nguồn:https://www.brookings.edu/research/covid-19-and-school-closures-what-can-countries-learn-from-past-emergencies/

Chia sẻ từ một giáo viên: "Làm thế nào để thành công trong dạy từ xa"

       

Nguồn ảnh: Zing.VN

 Gần đây, với sự bùng phát của dịch COVID – 19, nhiều trường học đã đóng cửa, các học sinh sinh viên và giáo viên chuyển sang học trực tuyến mà không được chuẩn bị hay tập huấn trước.  Thường phản ứng ban đầu là hơi hoảng và có chút thất vọng với cấp trên.  Nhưng cần hiểu rằng, họ đang làm theo hướng dẫn của cơ quan quản lý Giáo dục và chính quyền.  Bạn đã chọn nghề giáo vì đam mê truyền đạt kiến thức cho học sinh, vì vậy hãy tận dụng niềm đam mê đó và biến nó thành cơ hội để bổ sung thêm một kỹ năng mới không chỉ mang lại lợi ích cho học sinh, sinh viên mà còn cho chính bạn.

          Đầu tiên bạn nên duy trì mối quan hệ thân thuộc mà bạn đã xây dựng với các học sinh của mình.  Học sinh của bạn sẽ cần sự quen thuộc đó khi học trực tuyến hơn bao giờ hết. Bạn hiểu học sinh của bạn, họ thích và không thích gì, cách họ học như thế nào,…  Các giáo viên phổ thông đã bao lần ước có thêm thời gian để hỗ trợ học sinh theo nhóm nhỏ, hay hỗ trợ cá nhân cho một số học sinh.  Giờ là lúc bạn có thể làm điều đó vì bạn không còn phải dạy 6 giờ liên tục một ngày.

          Có nhiều website khác nhau như ss SignupGenius, cho phép học sinh đăng ký lịch học cụ thể với bạn.  Đây cũng là cơ hội tuyệt vời để bạn hiểu thêm về phụ huynh.  Nhiều người trong số họ ở nhà, bạn có thể kết nối với họ.  Tôi có cơ hội nói chuyện với nhiều phụ huynh hàng tuần và họ đã cho tôi nhưng thông tin rất có giá trị.

          Tôi không thể kể hết những phụ huynh mà tôi đã trao đổi và được họ đánh giá cao. Có thể bạn đang tự nghĩ: Đúng, tôi đang có mối quan hệ tốt với học sinh của tôi nhưng làm cách nào để duy trì mối quan hệ đó khi mà tôi không thể gặp học sinh hàng ngày.  Đừng lo! Công nghệ sẽ giúp chúng ta.

          Chỉ là bạn không ở trong cùng lớp học với học sinh, không có nghĩa là bạn không thể nhìn thấy những khuôn mặt thân yêu đã thắp sáng mỗi ngày làm việc của bạn và nhắc nhở tại sao bạn chọn nghề dạy học.  Zoom là một công cụ tuyệt vời, đặc biệt là bởi vì nó miễn phí và đã xóa bỏ giới hạn thời gian 40p cho các trường phổ thông bị ảnh hưởng bởi dịch COVID – 19.  Phần mềm này được tải miễn phí và sau đó bạn có thể sử dụng âm thanh và webcam của máy tính của mình để gặp mặt trực tiếp với học sinh.  Gói cơ bản cho phép tối đa 100 người cùng tham gia, cả lớp có thể đăng nhập cùng một lúc.  Đây cũng là giải pháp tuyệt vời để gặp gỡ một số cha mẹ học sinh, những người không thể dự buổi họp phụ huynh tối chẳng hạn.

          Thế còn với những phụ huynh không muốn con mình sử dụng webcam, hoặc khi bạn đang trong ngày nghỉ và quần áo đầu tóc bạn không được gọn gàng lắm? Skype là sẽ là giải pháp tốt.  Bạn có thể thiết lập một tài khoản skype và học viên có thể thêm bạn vào danh sách liên lạc của họ.  Họ có thể trò chuyện với bạn trong khi vẫn có thể làm việc khác hoặc chỉ để chào nhau một câu.  Trên thực tế, nhiều khóa học từ xa yêu cầu giáo viên và học sinh phải gặp mặt trực tuyến với nhau ít nhất một tháng một lần.  Đây cũng là một cách tuyệt vời để giữ liên lạc với đồng nghiệp của bạn, có thể chỉ là một câu hỏi nhanh trong khi cả hai vẫn có thể tiếp tục làm việc đang làm mà không cần dừng lại.  Và tất nhiên, đừng quên kênh nhắn tin nữa.

          Thế hệ học sinh hiện nay muốn nhắn tin với nhau hơn là nói chuyện điện thoại.  Nhiều phụ huynh thì bận rộn đến nỗi chỉ nhắn tin một cách nhanh chóng thay vì tìm thời gian để nói chuyện.  Có những website cho phép học viên nhập số điện thoại di động và bạn có thể nhập các tin nhắn ngắn trên web ví dụ như: Nhớ nhé, mai có một bài kiểm tra và tin nhắn đó sẽ được gửi đại trà tới tất cả học sinh.  Bây giờ bạn đã có các công cụ, hãy nói về chương trình học.

          Với việc nhiều nhà xuất bản đã chuyển các nội dung chương trình học thành kỹ thuật số, học viên có thể dễ dàng truy cập sách giáo khoa từ xa nếu họ không có sách in.  Nếu không thể truy cập tài liệu điện tử, bạn có thể scan các trang chính của sách và sử dụng chúng trong bài giảng trực tuyến miễn là không cho phép học viên tải xuống để sao chép, tương tự như quy định của Ban giám hiệu cho công cụ thực hành . Và nếu không có lựa chọn nào khả thi, hãy tìm các nguồn tài liệu miễn phí trên các trang web hoặc xây dựng bài giảng cho bản thân.  Vậy là đã chuẩn bị về mối quan hệ? Các thức giao tiếp đã nói đến. Nội dung chương trình đã nói.  Bây giờ bạn đã sẵn sàng dạy trực tuyến.

          Trước đó tôi đã đề cập đến Zoom.  Bạn có thể sử dụng Zoom để chia sẻ với sinh viên các tài liệu đang mở trên màn hình máy tính của bạn.  Họ có thể xem các tệp, trang web và thậm chí bạn có thể tạo Power Point để chia sẻ, vì vậy học viên nhìn được những tài liệu bạn sử dụng để trình bày.  Thêm một lợi ích nữa là bạn có thể quay lại bài giảng và gửi liên kết cho học sinh, thậm chí những học sinh bị ốm không thể tham gia học trực tuyến cũng sẽ không bỏ lỡ bài giảng và các học sinh khác có thể sử dụng bản ghi để ôn tập.

          Ngoài ra còn có các nền tảng như Moodle and Canvas cho phép lưu trữ các video bài giảng, tài liệu tham khảo và liên kết web của bạn được để học viên có thể xem.  Nhiều nền tảng có phần mềm lưu trữ Dropbox, sổ điểm để học viên có thể tải lên bài tập của mình, nhận phản hồi, và xem điểm cập nhật theo thời gian thực.

          Điều quan trọng cuối cùng đó là giữ cân bằng.  Dạy trực tuyến, làm việc tại nhà, bạn sẽ dễ dàng thức khuya hoặc mở máy tính làm việc, gửi email vào ngày nghỉ.  Hãy chắc chắn rằng bạn dành thời gian cho gia đình và bạn bè và cho chính bạn.  Họcinh viên của bạn cần bạn hơn bao giờ hết, vì vậy hãy chắc chắn rằng tất cả mọi mặt cuộc sống của bản thân bạn được cân bằng.

          Hãy nhớ rằng, các mối quan hệ, khả năng giao tiếp và chương trình giảng dạy không thay đổi, chỉ là cách thức mà chúng ta đang thực hiện.  Hãy có một năm luôn mạnh mẽ.

          Tom Beeman là giáo viên Trung học người Tây Ban Nha tại California Virtual Academies, thành viên của hội đồng giảng dạy ngoại ngữ từ xa của Mỹ, đã giảng dạy trực tuyến tiếng Tây Ban Nha các cấp trong 10 năm qua.

Nguồn: https://www.languagemagazine.com/2020/03/31/how-to-succeed-in-distance-education/

 

Họp chia sẻ báo cáo Báo cáo tiêu điểm về thực hiện SDG-4 tại Việt Nam và tham vấn về giáo dục người lớn

Hiệp hội Vì giáo dục cho mọi người Việt Nam (VAEFA) cùng với các tổ chức thành viên nỗ lực vận động chính sách trong những năm qua để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trong giáo dục (SDG-4). Năm 2019, VAEFA tổ chức tham vấn xây dựng báo cáo tiêu điểm về thực hiện mục tiêu SDG-4 là một trong các hoạt động nằm trong khuôn khổ sáng kiến cấp khu vực của Hiệp hội Giáo dục cơ bản và Giáo dục người lớn khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ASPBAE) nhằm đưa các thông điệp vận động cho mục tiêu SDG-4 tới Diễn đàn Chính trị cấp cao của Liên Hiệp Quốc (HLPF) đã diễn ra vào tháng 7/2019 tại New York, Hoa Kỳ.

Họp chia sẻ báo cáo Báo cáo tiêu điểm về thực hiện SDG-4 tại Việt Nam và tham vấn về giáo dục người lớn

 

        Hiệp hội Vì giáo dục cho mọi người Việt Nam (VAEFA) cùng với các tổ chức thành viên nỗ lực vận động chính sách trong những năm qua để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trong giáo dục (SDG-4). Năm 2019, VAEFA tổ chức tham vấn xây dựng báo cáo tiêu điểm về thực hiện mục tiêu SDG-4 là một trong các hoạt động nằm trong khuôn khổ sáng kiến cấp khu vực của Hiệp hội Giáo dục cơ bản và Giáo dục người lớn khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ASPBAE) nhằm đưa các thông điệp vận động cho mục tiêu SDG-4 tới Diễn đàn Chính trị cấp cao của Liên Hiệp Quốc (HLPF) đã diễn ra vào tháng 7/2019 tại New York, Hoa Kỳ.

           Với mục đích tiếp tục xem xét và cụ thể hóa một số khuyến nghị đã nêu trong báo cáo này  VAEFA tổ chức buổi Họp chia sẻ báo cáo tiêu điểm về thực hiện SDG-4 tại Việt Nam và tham vấn về Giáo dục người lớn vào sáng ngày 10/01/2020.

           Buổi họp có sự tham gia của đại diện Vụ Giáo dục Thường xuyên (Bộ Giáo dục và Đào tạo), Ban Nghiên cứu Giáo dục Người lớn (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam), Trường Đại học và Cao đẳng Sư phạm, Hội LHPN Việt Nam, Trung tâm Dịch vụ Việc làm Hà Nội, các tổ chức Liên Hiệp quốc (UNESCO, UNICEF), tổ chức quốc tế (GIZ) và  một số thành viên VAEFA bao gồm: Hội Người Khuyết tật Hà Nội, Trung tâm nghiên cứu Phát triển Hòa nhập (RCI), Trung tâm Nghiên cứu phát triển giáo dục và văn hóa dân tộc thiểu số, tổ chức CENEV, IDEA, REACH, CODES, CEPEW, HAD…

             Tại buổi họp các đại biểu cũng được nghe chia sẻ báo cáo nghiên cứu “Quá trình chuyển tiếp từ thời thơ ấu sang tuổi trưởng thành của thanh thiếu niên khuyết tật tại  Việt Nam” do Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Hòa nhập (RCI) thực hiện. Báo cáo này chỉ ra các rào cản trong lĩnh vực học hòa nhập, đây là khía cạnh được nhấn mạnh trong báo báo tiêu điểm SDG-4.

           Liên quan đến giáo dục người lớn, một lĩnh vực mà VAEFA đặc biệt quan tâm, buổi họp tham vấn đã thu được nhiều ý kiến đóng góp chất lượng nhằm hoàn thiện các khuyến nghị sẽ đưa ra từ hai nghiên cứu đang được triển khai, đó là:

           1) Đánh giá tác động thực hiện thông tư liên tịch 39/2015-TTLT sáp nhập 3 Trung tâm tại cấp huyện thành Trung tâm Giáo              dục Nghề nghiệp – Giáo dục Thường xuyên

           2) Rà soát chính sách và kế hoạch tài chính để phát triển kỹ năng cho nhóm phụ nữ thiệt thòi nhằm tăng tiếp cận việc làm 

           Mục tiêu của hai nghiên cứu này nhằm đưa ra khuyến nghị cải thiện  hoạt động của Trung tâm Giáo dục Nghề nghiệp – Giáo dục Thường xuyên và tăng cường đào tạo kỹ năng cho nhóm phụ nữ thiệt thòi, thúc đẩy xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời tại Việt Nam. Bà Bùi Thanh Xuân, Ban Nghiên cứu giáo dục người lớn, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam bày tỏ: “Mong muốn hợp tác cùng với VAEFA để đẩy mạnh giáo dục thường xuyên, một lĩnh vực quan trọng nhưng chưa được quan tâm đúng mức”. 

       Với kinh nghiệm tham gia trong các tiến trình tham vấn thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững trong giáo dục, VAEFA hy vọng các phát hiện và khuyến nghị từ các nghiên cứu này  có thể đóng góp xây dựng kế hoạch Chiến lược giáo dục 2021-2030.

Bài số 5. Học hòa nhập – Vai trò của cha mẹ và sự cần thiết phối hợp với nhà trường và cán bộ, nhân viên giáo dục đặc biệt

Là những người tham gia lĩnh vực này nhiều năm, tiếp thu được các nghiên cứu của các nước phát triển và theo kinh nghiệm lâu năm tác động cho trẻ này, chúng tôi nhận thấy để trẻ có thể học hòa nhập lớp một thì phải được tác động phù hợp ít nhất trước 01 năm. Với trường hợp cháu bé đã nêu trong các bài viết trước đây, chúng tôi hiểu đây chỉ là những kết quả ban đầu sau vài tuần được tác động phù hợp, trẻ đã có đượcnhững chuyển biến tích cực. Nhưng quá trình phục hồi chức năng để đưa trẻ đi học hòa nhập trường phổ thông là một quá trình vô cùng vất vả. Chúng tôi đã nói rõ điều này cho cha mẹ trẻ và hy vọng gia đình trẻ sẽ nhận thức được.

LIÊN HỆ

HIỆP HỘI VÌ GIÁO DỤC CHO MỌI NGƯỜI VIỆT NAM
VIETNAM ASSOCIATION FOR EDUCATION FOR ALL

Phòng 1404, tòa N03-T3A, khu Ngoại giao đoàn, phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội
(Có thể vào từ đường Võ Chí Công, lối vào khu Star Lake)
Room 1404, N03-T3A building, Diplomatic Compound, Xuan Tao ward, Bac Tu Liem district, Hanoi
(Accessible from Vo Chi Cong road, Star Lake entrance)


Số điện thoại/Tel: (+84)243 773 5303
Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

ẢNH HOẠT ĐỘNG

Sample Image  Sample Image

Sample Image  Sample Image

Xem thêm